Chọn sim đẹp theo đầu số di động


Phong thủy luận

Phong Thủy có giá trị như thế nào?
Trong số các môn cổ xưa còn được lưu truyền tới ngày nay thì Phong Thuỷ có ảnh hưởng và huyền bí vào loại bậc nhất. Số người bài bác không tin môn này không ít nhưng phần lớn thì vô cùng sùng bái và tin tưởng. Vậy thực chất môn học cổ này có giá trị gì không? Xin thưa là có gía trị! Gía trị của nó tới đâu hãy để cho mỗi cá nhân tự đánh giá sau khi ta xem xét bản chất của nó qua bài viết về Phong Thuỷ dưới góc độ hiện đại:

1- Cơ sở lý luận của Phong Thuỷ dưới con mắt hiện đại:

Từ hàng nghìn năm nay triết học phương đông, triết học cổ đại, triết học phương tây và cả triết học của chủ nghĩa xã hội ... cũng đều khẳng định rằng vạn vật đều hình thành và phát triển do sự tồn tại của hai mặt đối lập “vật chất và ý thức” hay nói khác đi là "âm và dương". Tuy vậy duy chỉ có triết học Phương Đông hiểu rõ hơn “vật” là gì, coi “vật” như một "vũ trụ" vận hành theo qui luật của tự nhiên và qui nó về một hệ cơ sở là "ngũ hành" để tiện bề nghiên cứu.

Nói “ngũ hành” là một hệ cơ sở (triết học Phương Đông có sử dụng nhiều hệ cơ sở khác nữa) vì triết học Phương Đông có thể qui (qui gần đúng hay qui thô) vạn vật về năm hành "kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ" cũng giống như trong thương mại quốc tế người ta qui mọi đồng tiền của các nước về hệ cơ sở là đông đô la Mỹ vậy. Xét đến đối tượng nghiên cứu cũng như các vấn đề cần giải quyết của khoa học Phương Đông mà cụ thể là môn Phong Thuỷ thì với hệ cơ sở này là tạm đủ. Tuy vậy trong nhiều trường hợp người ta còn chia “ngũ hành” ra làm nhiều loại chi tiết hơn cho mô hình nghiên cứu được chính xác hơn. Chả vậy mà Phong Thuỷ ngoài khái niệm “Ngũ tinh” còn có khái niệm “Lão cửu tinh” và “Thiên cơ cửu tinh”...

Bản thân "vật" là một thực thể tồn tại khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào việc con người có nhận biết được nó hay không và điều này thì khoa học cơ bản đã công nhận rồi. Nhưng trước đó nhiều thế kỷ triết học Phương Đông đã khẳng định "vật" tồn tại ở hai dạng "hình và khí" tức là giống với dạng “Sóng và Hạt” theo Vật Lý ngày nay. Cao hơn nữa triết học Phương Đông còn cho rằng "vật" cũng tồn tại ở hai dạng "hữu cơ và vô cơ" nên khí và hình cũng tồn tại ở hai dạng "hữu cơ và vô cơ", đây chính là vấn đề mấu chốt của địa lý phong thuỷ mà người phương Tây rất khó “ngộ” ra.

Từ xa xưa cũng như ngày nay các khí công sư, các bậc khô thiền...có thể nhìn thấy khí (trường năng lượng), hơn nữa là nhìn thấy với mọi màu sắc khác nhau. Các vị đó xem khí của đất để biết “chân long bảo địa”, của người để đoán mệnh, bệnh, nhìn khí của hiện trường để phá án .Các bạn chớ có kinh ngạc vì đó là nguyên lý "Có hình tất có khí" và "đã có khí rồi thì có hình". Các Tiền Triết đã nắm được đặc điểm này mà phát minh ra phép "Vọng Khí" dùng để lựa chọn một cách tốt nhất trường khí của môi trường, chọn nơi tốt nhất để ở hoặc táng người thân cũng như để tiên đoán thời cuộc và vận nước.

Xét trên bình diện của địa cầu Phong Thuỷ phân ra hai phần âm dương, phần bắc bán cầu là âm và phần nam bán cầu là dương. Phần bắc lại chia ra Bắc Cực tính “hàn’’ là âm còn vùng Xích Đạo là dương, Phần nam bán cầu thì vùng Xích Đạo là dương còn phần Nam Cực là âm. Hai nơi có khí hậu điều hoà nhất ở phần bắc và phần Nam là những nơi âm dương giao hoà là những địa điểm tốt nhất về mặt phong thuỷ (Các nước phát triển, đế quốc thường ở những nơi này- nơi không lạnh không nóng).

Xét trên bình diện vũ trụ, "khí" tồn tại ở khắp mọi nơi nó chính là "hạt" cơ bản cấu tạo nên vũ trụ. Trên trái đất "khí" tồn tại trong bầu khí quyển, "khí" tới từ vũ trụ từ các giải “Ngân Hà” xa xôi. Theo qui luật "có hình tất có khí" khí mang tính âm sẽ bị hấp thụ bởi các đỉnh núi cao (các Tiền Triết từng nói: khí nương vào hình) rồi "thẩm thấu" theo các mạch núi, đất di chuyển xuống thấp mà sau này ta gọi là "long mạch"...

Cũng theo qui luật "có khí tất có hình" mà các mạch núi, đất này sẽ dần dần biến đổi hình dạng cho phù hợp với tính chất "khí" ở trong nó (Hình nào thì khí đấy). Do hiểu rõ qui luật này mà các tiền nhân, Tiền triết mới đưa ra các khái niệm "ngũ tinh, lão cửu tinh, cửu diệu...". Trong phong thuỷ khi xét về hình thế của đất mà thực chất là xét tới tính chất của “khí” của long, do vậy khái niệm "khí" là mấu chốt của phong thuỷ xem ra là chưa đủ mà còn phải xét đến hình vì cả hình lẫn khí mới là hai mặt của một vấn đề (nhất âm nhất dương chi vị đạo).

Về tính chất của "khí", khí bị nước hấp thụ hay nói khác đi "khí" gặp nước thì dừng. Phong thuỷ qui ước "khí" là dương thì "hình" là âm. Xét bản thân hình gồm núi (long) và nước (thuỷ) thì núi là âm mà nước là dương do vậy phong thuỷ địa đạo luôn luôn phải nhớ câu "sơn thuỷ hữu tình". Ngày nay trong khoa học người ta đã tìm ra sóng Viba. Sóng này bị nước hấp thụ hay nói khác đi gặp nước thì dừng do vậy nhiều người khẳng định “khí” là sóng dạng Viba.

Theo qui luật "cô âm bất sinh độc dương bất phát" thì chỉ khi có đủ âm dương thì mới động dục mà sinh sản nên những nơi "sơn hoàn thuỷ bão" thì nhiều khả năng có địa "kết". Nói nhiều khả năng vì vẫn chưa đủ điều kiện, Tại sao vậy? Vì như đã nói ở trên, "khí" mang tính âm thẩm thấu qua "long" đi mãi cho đến nơi kết sẽ “đột” (âm) khởi hoặc bình “oa” (dương) kết huyệt với rất nhiều các ứng "tinh". Các ứng "tinh" này sẽ tạo ra một vùng lòng chảo hoặc một vùng nón úp có vai trò "ăng ten" thu các khí mang tính dương trên không trung tụ lại trong thuỷ. Kết quả là âm dương, thiên địa giao hoà mà kết huỵêt. Các Tiền Triết quả thật vô cùng thâm sâu khi đưa ra nhận định "chứng ứng" ứng với thiên tinh trên trời khiến cho nhiều hậu học không đủ cơ duyên chẳng biết đâu mà lần....

Đồng hành với quá trình khí âm đi theo long mạch, "khí" mang tính dương cũng thẩm thấu vào nước và ánh sáng tạo thành các dòng sông con suối mang “ánh quang” đi sát bên "long" như vợ với chồng tới nơi long đình khí chỉ,"địa hộ" đóng lại, âm trữ dương tồn thì tạo ra địa "kết" , song thể kết có khác nhau ở chỗ "nhũ ,đột" và "oa, kiềm". Theo qui luật " dương hấp âm hô" thì khí âm sẽ kết kiểu "oa, kiềm" còn khí dương thì tụ kiểu "nhũ, đột" , đó là nói về sự "kết" ở vùng sơn cốc và bình dương. Hai khái niệm sơn cốc và bình dương thì theo qui luật " Vô cực sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng", sơn cốc núi cao nên gọi là “lão âm”, thung lũng bằng phẳng ở đây gọi là “thiếu dương” tương tự như vậy bình điền cả một bằng phẳng không biến đổi nên gọi là “lão dương”, các gò đồi đột khởi tại đây gọi là “thiếu âm”. Nơi sơn cốc âm khí thì thu lại, còn nơi bình điền khoáng dã dương khí thì tản ra do vậy huyệt kết nơi sơn cốc cần rộng rãi còn nơi bình điền thì lại cần thu lại không ngoài nguyên lý của trời đất là "lấy cái thừa bù cái thiếu". “Lão âm và lão dương” thì già cỗi vô sinh, “Thiếu âm thiếu dương” thì đầy sức sống tươi trẻ mới có thể sinh con. Cái lý của tự nhiên thật đơn giản nhưng cũng thật diệu kỳ,Tứ tượng đã sinh tự khắc bát quái sẽ hình thành mấu chốt là ở chỗ ai biết nguyên lý để giải được trận đồ bát quái?

Với cơ chế tương tự, khí dương theo nước mưa; ánh sáng… thẩm thấu xuống đất bằng - cả một vùng bình nguyên đồng bằng rộng lớn (lão dương). Long mạch ở bình nguyên dẫn khí dương đi, những nơi khởi cao hơn dù là chút ít (cao nhất thốn vi sơn, đê nhất thốn vi thuỷ) là dấu tích của long mạch. Khi có dấu hiệu của âm dương giao hoà sinh khí, khởi lên một loạt tinh phong quần tụ cũng là lúc thuỷ đổ dồn về thì có kết tác vì thuỷ tích khí dương còn các tinh phong (ứng tinh) đột khởi nơi bình địa thu khí âm. Thật là một nơi "thiên tạo địa thiết", Phong thuỷ chân long dành cho người có đủ cơ duyên. "Dương thăng âm giáng" phu gặp phụ kết thúc một chu trình của sự vân động của thiên và địa.

Long mạch làm nhiệm vụ vận chuyển “nội khí” biến đổi theo qui luật “Càn Khôn đại Quái”. Ứng tinh thu “ngoại khí” biến đổi theo nguyên tắc “Tam Nguyên Huyền Không Đại Nguyên Pháp”. Khi hai khí “nội ngoại” theo chu kỳ biến hoá của mình gặp nhau thì còn chỉ chờ “cơ duyên” nữa là đại nhả tinh hoa... Thiên đã thời địa đã lợi chỉ còn chờ có nhân hoà...

Xét việc trong vũ trụ này ngoài "thiên địa" còn phải xét đến "nhân" vì thiên địa nhân là hợp nhất. Con người là "vật" là tiểu vũ trụ do vậy con người có “hình và khí” chỉ có khác là “hình và khí” của con người có tính "hữu cơ", có nguồn gốc từ tế bào, axit amin, albumin, nhân tế bào và đặc biệt là có nguồn gốc từ axit deoxiribonucleic tức là mật mà di truyền ADN. Mật mã “di truyền” là bản thể sẽ qui định trường khí của mỗi cá nhân lúc mới sinh ra và phát triển sau này.

Con người trong xã hội có nhiều mối quan hệ do vậy trong Phong Thuỷ có đề cập đến “khí” của một cá nhân, “khí” của cả một dòng họ và cao nữa là “khí” của cả một dân tộc. Ta thấy khái niệm này là tương đồng với khái niệm “nghiệp” của các nhân, dòng họ và dân tộc trong đạo Phật. Về trường nhân khí, trường nhân khí có hai loại "dương và âm" đàn ông thuộc dương còn đàn bà thuộc âm. Phong Thuỷ qui trường nhân khí về tập hợp của “cửu khí” và “ngũ hành” vì thế trong đông y người ta có thể chia các bộ phận trong cơ thể ra âm dương và ngũ hành từ đó hình thành khái niệm “lục phủ ngũ tạng”. Cửu khí trong cơ thể vận hành theo các kinh mạch. Các kinh mạch lại được chia ra thành âm dương, chính phụ và giao điểm của các kinh mạch chính là nơi âm dương giao hoà hay còn gọi là “huyệt đạo”. “Huyệt đạo” cũng chia ra âm dương chính phụ nó là nơi tiếp nhận tín hiệu của môi trường cũng như gửi các tín hiệu của cơ thể ra môi trường. Các Thiền sư qua quá trình khổ luyện khi đã đả thông các kinh lạc, huyệt (mở các Luân Xa) thì đều có thể cảm nhận được khí của môi trường và bản thân cũng toả ra các “hào quang nhân thể” ra môi trường. Các hào quang này có các mầu sắc tương đồng với cửu khí vận hành trong cơ thể.

Đặc điểm của "trường khí hữu cơ" ngoài các đặc điểm có tính chất sóng, hạt, năng lượng và định hướng còn có hai đặc điểm rất rõ nét: Một là tính có thể khống chế, tức là chịu ý niệm khống chế, đặc điểm này có thể nhìn thấy được trong các thí nghiệm đo đạc trường năng lượng nhân thể, trạng thái tinh thần có thể ảnh hưởng đến độ mạnh yếu của của trường nhân thể. Hai là “nghiệp” và mức độ "thanh" hay "trọc" của "trường nhân khí" là phụ thuộc vào bản tính "thiện" hay "ác" , “tham sân si” của mỗi cá nhân. Cá nhân có trường khí tốt hay xấu thì từ dó có ảnh hưởng giao cảm đến trường khí của dòng họ mà anh ta được sinh ra (thông qua mật mã ADN) . Các dòng họ phúc lớn có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội thường thế lực, trường tồn và sản sinh ra những nhân tài xuất chúng trong nhiều đời. Điều này đặc biệt đúng và tuân thủ nghiêm ngặt luật “Nhân Quả” trong đạo phật.

Xét đến cơ chế của sự kết phát (nhận được khí tốt), Phong thuỷ đưa ra hai cơ chế như sau:

Cách hấp thụ trực tiếp: xẩy ra khi bản thân con người (nhà ở trên đất tốt) hấp thụ được khí tốt của môi trường "huyệt". Trung tâm "huyệt" đóng vai trò như một "đài phát sóng truyền hình" và trường nhân thể đóng vai trò của "máy thu hình". Trường nhân thể nào có cùng tần số lập tức bắt được sóng năng lượng của trung tâm “huyệt” một cách trực tiếp, như vậy càng ở gần trung tâm “huyệt” sóng bắt được càng rõ nét và tương ứng mức độ kết phát càng lớn và càng dễ kết phát.

Cách gián tiếp hấp thụ (hấp thụ qua mộ phần trên đất tốt hay qua người thân đang sống):

Đối với người đang sống sau khi nhận được năng lượng sóng từ trung tâm năng lượng truyền đến, hấp thụ một phần và bản thân sẽ trở thành một trạm phát chuyển tiếp để truyền năng lượng đến các trường nhân thể có quan hệ huyết thống khác trên cơ sở mật mã di truyền (đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu) . Dĩ nhiên là các trường nhân thể càng "non trẻ" càng dễ dàng hấp thụ năng lượng.

Đối với người đã chết phần thân thể là những thứ tồn tại ở dạng “hình” trong một thời gian dài sẽ là các trung tâm tiếp nhận sóng và chuyển tiếp đến các trường nhân thể khác có quan hệ huyết thống cũng trên cơ sở mật mã di truyền. Con cháu của người trong mộ tự nhiên sẽ hấp thụ khí tốt này mà trở nên may mắn trong cuộc sống mà dân gian gọi là mộ "phát".

Khoa học hiện đại ngày nay khi nghiên cứu các vấn đề thực tiễn thường dùng phương pháp mô hình hoá, đơn giản hoá sau đó phát triển dần cho gần với mô hình thực tế rồi đem ra áp dụng. Phong thuỷ cũng vậy, từ đầu đến giờ bài viết đã đưa ra một mô hình đơn giản dễ dàng cho việc nghiên cứu còn trong thực tế mô hình phong thuỷ phức tạp hơn gấp bội phần. Sự phức tạp của nó thể hiện ở các điểm sau :

Một là "trường nhân thể" không đơn thuần chỉ là một trung tâm thu và phát năng lựơng sóng mà nó là một "trường hữu cơ" với đầy đủ các tính chất phức tạp của nó ( có sự sinh trưởng và phát triển, có ý niệm, có cảm xúc)...

Hai là sự vận động của vũ trụ là không ngừng "không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông" do vậy các "trung tâm năng lượng" là biến đổi không ngừng lúc mạnh, lúc yếu, lúc cát, lúc hung.... do vậy phong thuỷ mới có khái niệm "vận" và "mở huyệt, đóng huyệt" điều này cũng tương đồng với học thuyết " Linh qui bát pháp, tý ngọ lưu chú" trong đông y khi nghiên cứu kinh lạc, huyệt trên cơ thể con người

Ba là sự kết hợp của hai "trung tâm năng lượng huyệt và trường nhân thể" là một cơ chế phức tạp không đơn thuần như đã mô tả ở trên vì nó còn chịu sự tác động của rất rất nhiều trường khí hữu cơ khác mà một trong số đó người xưa gọi là "long thần hộ vệ"…Sự kết hợp này là cả một “cơ duyên” vô cùng phức tạp và là tiền đề của những thay đổi của cả một xã hội hay mô hình phát triển ...

Bốn là có tồn tại một cơ chế điều khiển của các trung tâm năng lượng do vậy mà xuất hiện các môn chấn yểm bùa ngải … cũng như tồn tại các thế lực muốn điều khiển các trung tâm này

Năm là các trung tâm năng lượng có trung tâm "sống" và các trung tâm "chết" . Sống thì tự sinh có thể dùng lâu dài mà không hết còn “chết” thì chỉ dùng trong khoảng thời gian ngắn là cạn kiệt

Sáu là “khí” là không thuần khiết một hành mà có thể vừa mang tính mộc vừa mang tình thổ...vì thế Phong Thuỷ thực tế càng khó hơn nhiều so với lý thuyết.

Bẩy là để có sự kết phát nó đòi hỏi sự cùng tới tại một thời điểm của nội, ngoại và nhân “khí” việc này chỉ có thể xảy ra do cơ duyên chứ sức người khó mà định đoạt được.

Tám là có sự khác biệt về dương trạch (nhà) và âm trạch (mộ). Dương trạch lấy sự vận động của thiên khí làm chính còn âm trạch lấy sự vận động của địa khí làm chính do vậy nguyên lý “hoạt động” của hai trạch có sự dị biệt. Dương trạch ảnh hưởng nhẹ, nông mà nhanh còn âm trạch ảnh hưởng mạnh, sâu mà chậm.

Trên đây là những cơ sở lý luận căn bản nhất của môn Phong Thuỷ

2- Hệ thống kiến thức của Phong Thuỷ:

Hệ thống lý luận của môn Phong Thuỷ được hình thành và xây dựng qua nhiều thế hệ từ lúc sơ khai cho đến phức tạp như ngày nay trải qua hàng nghìn năm. Trong quá trình phát triển Phong Thuỷ luôn được coi là “báu vật” mang lại cho người sử dụng những lợi ích vô tiền khoáng hậu nên bị cấm phổ biến và bị nguỵ tạo về lý luận do vậy càng trở lên huyền bí và khó tiếp cận. Âu đó cũng là qui luật của tạo hoá bày ra để mà trêu ngươi con người luôn mưu cầu hạnh phúc mà không muốn trả tiền cho nó...

Về lý luận, thâu tóm lại Phong Thuỷ chia ra làm các phần riêng rẽ nhưng liên quan mật thiết đến nhau là: Vị trí, Hình thế, Lý khí, Số và Mệnh.

Vị trí: Trái đất chia ra hai nửa âm dương, hai cực trái dấu do vậy tuỳ vị trí trên địa cầu mà Tính chất Phong thuỷ và cách áp dụng lý thuyết cũng có khác nhau mà các sách cổ Phong Thuỷ còn sơ xuất chưa đề cập tới.

Hình thế: Núi non, sông suối, mặt đất gò đồi... là thứ mà con người có thể nhìn thấy và cảm nhận. Nó là cái hữu hình của khí mà người ta có thể nắm bắt do vậy cách thức xem Phong Thuỷ qua hình thế ra đời. Ở gần nhìn hình phân xấu đẹp đứng xa nhìn thế biết sang hèn, đẹp là biết ngoại hình thế là để xem phong cách. Cả thế và hình hoàn mỹ mới thật vẹn toàn như thiếu nữ có nhan sắc đẹp đẽ còn đoan trang duyên dáng, con nhà gia thế.

Phái hình thế ra đời từ rất lâu tại Trung Quốc mà người đại diện là Dương Quân Tùng với luận thuyết nổi tiếng "âm dương thư hùng". Phái hình thế đã xây dựng được một khối lượng lớn các luận thuyết tương đối hệ thống đồng thời đưa các quan niệm "tôn tộc ", "thiên phụ, địa mẫu" và hình tượng người phụ nữ. Họ coi quả đất là mẹ của muôn vật và hình tượng hoá khu vưc kết huyệt bằng hình tượng của người phụ nữ (huyệt ví như nơi sinh sản của phụ nữ): " Núi non vạn dặm, nơi nào cũng có tổ tông, nếu gặp cha mẹ dực dục,thai tức sau đó hình thành. Nhận hình lấy huyệt, biết rõ nơi cha sinh thành, nơi mẹ dưỡng dục.Thiên môn tất phải mở ra sơn thuỷ sẽ đến. Địa hộ tất phải đóng lại sơn thuỷ sẽ về.Thiên môn là nơi nước đến, địa hộ là nơi nước đi. Huyệt ở nơi đó, không ở nơi khác. Trong chỗ nhô lên vẫn có hang hốc, ở nơi cao có thấp,trong hang hốc vẫn có chỗ nhô cao, trong chỗ thấp vẫn có chỗ cao…Đạo lý của thiên hạ, âm dương ngũ hành không thoát ra ngoài một cái vòng. Vòng này là huyệt của sinh tử. Giữa trời đất có vòng nhỏ, vòng lớn, hiểu được vòng này đâu đâu cũng là vòng. Trời đất xoay chuyển, ai hiểu được trăm ngàn điều lý thú trong vòng này là tiên giữa trần gian….. Vòng này là vòng thiên vòng địa, tròn cùng không tròn, vuông cũng không vuông, dẹt cũng không dẹt, dài cũng không dài, ngắn cũng không ngắn, rộng cũng không rộng, nhọn cũng không nhọn, trọc cũng không trọc, trong ý thức con người như có như không đó là vòng tự nhiên. Âm dương đứng ở trong đó, ngũ hành sinh ra ở trong đó. Trong vòng hơi lõm xuống như nước mà không phải nước. Ngoài vòng hơi nhô nên như cát mà không phải cát..".

Để có thể nghiên cứu sâu và chi tiết, phái hình thế đưa vô vàn khái niệm như Long, thuỷ, huyệt, án, sa, thanh long , bạch hổ, huyền vũ, chu tước, thai tức, thiềm ,cầu , hà tu , hợp khâm, , ỷ chi, sứ huyệt tất , thiên tâm thập tự…. Từ đó lại phân loại nhiều loại long , thuỷ….
Xét cho cùng mục đích của phái hình thế là tìm ra ngũ quyết địa lý bao gồm Long , huyệt, sa, thuỷ, hướng tức là nghiên cứu địa khí của khu vực cần phải khảo sát hay nói rộng ra là đi tìm trung tâm "phát sóng" trong tự nhiên.

Lý khí: Phái lý khí cho rằng vạn vật, thiên địa đều do khí sinh ra " tất cả mọi vật đều là khí", "núi sông thuỷ thổ đều có chứa khí là đại trạch của tạo hoá vì vậy khí lưu hành đầy trong vũ trụ. Thiên địa vạn vật đều là một thể". Vạn vật của thiên địa đều là một thể do vậy giữa chúng phải có một điểm chung, đó chính là "lý". "Lý" tồn tại hiện thực nhưng lại vô hình, sự kết hợp của "lý" và "hình" chính là tượng của khí. "Lý" sinh ra từ khí, "lý" của vạn vật trong tự nhiên có quan hệ mật thiết với loài người đó chính là qui luật của thời gian và không gian, qui luật của vũ trụ về phương vị của thời gian và không gian. Dựa trên cái "lý" đó phái lý khí đã xây dựng một khối lượng đồ sộ các hệ thống lý thuyết trên cơ sở của ngũ hành sinh khắc, âm dương bát quái, cửu tinh, bát môn, thập nhị bát tú, thập nhị tứ sơn, 72 long xuyên sơn, 60 long thấu địa, 24 huyệt châu bảo, tử phụ tài quan quí nhân lộc mã, thiên địa nhân qui tàng quái phân kim….với hai trọng điểm lý luận:

- Lấy phương vị (Đông, Tây, Nam,Bắc) là chính tức khí ở phương vị khác nhau thì tốt xấu khác nhau
- Lấy thời gian làm chủ tức cùng một phương vị thì tại các thời điểm khác nhau thì tốt xấu khác nhau

Xét cho cùng mục đích của phái lý khí là tìm ra hướng và thời gian tức là nghiên cứu thiên khí của cả một vùng hay nói rộng ra là nghiên cứu làm sao có thể nhận sóng tốt nhất dù ở trong hay ngòai trung tâm phát sóng

Xét về tổng thể hai phái "hình thế" và "lý khí" là không thể tách rời, mặc dù cả hai phái đều xây dựng trên cơ sở lý luận riêng của mình. Phái lý khí so với phái hình thế có cơ sở lý luận tương đối hoàn chỉnh hơn. Phái hình thế từ rất sớm đã lựa chọn địa hình, địa thế và điều kiện môi trường làm điểm xuất phát xây dựng nên hệ thống học thuyết của mình. Phái lý khí xuất phát từ quan hệ của khí, số, lý mong muốn tìm được qui luật và mối liên hệ nào đó giữa con người và "thiên lý" nhằm đạt được sự thông đạt của khí, lý giữa con người và môi trường, từ đó tìm ra môi trường lý tưởng có lợi cho nhân sinh. Nhìn trên tổng thể có thể nói sự truy tìm chiều sâu lý luận của phái lý khí cao hơn phái hình thế. Tuy vậy ranh giới giữa chúng là không rõ ràng, hai phái đều có những điểm chung về thực chất đó chính là "khí", "sinh khí" và người xưa cũng đã dần dần nhận rõ điều này : "Người không biết về loan đầu không thể nói đến lý khí. Người không biết về lý khí không thể nói đến loan đầu. Người tinh thông loan đầu cuối cùng sẽ tự hợp với lý khí. Người tinh thông lý khí cuối cùng sẽ tự hợp với loan đầu. Loan đầu không chỉ có long, huyệt, sa, thuỷ đó mới chỉ là nội dung sơ lược. Cần phải tìm hiểu rõ về địa thế cao thấp , nguồn nước tụ tán, hướng thế của sa pháp, long khí dầy mỏng, thời khắc hưng vượng …". Điều này càng nói rõ lên rằng hình thế và lý khí là một tổng thể, là hai mắt xích không thể tách rời. Câu chuyện này cũng giống câu truyện dài và ly kỳ của khoa học phương tây đưa dến kết luận : " Ánh sáng vừa có tính chất sóng vừa có tính chất hạt" tức vừa là hình (hạt) vừa là khí (sóng)

Số: Vô cực sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi (hệ cơ số 2 âm và dương), lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái có thể biểu diễn mọi sự kiện, sự vật từ nhỏ vô cùng đến lớn vô cùng. Phong thuỷ là một môn khoa học nghiên cứu về phạm trù "khí và hình" nên đương nhiên không vượt qua sự chi phối của qui luật phổ biến với hệ cơ số 2 do vậy việc áp dụng kinh dịch vào phong thuỷ đã được người xưa chú ý và đây chính là phương pháp nhiên cứu phong thuỷ đỉnh cao mà ít người biết tới. Điểm lại sách cổ của phái hình thế ta bắt gặp nhiều đến quái, tượng trong việc luận đoán cát hung cho một cuộc đất. Tuy vậy về mặt lý luận vẫn còn sơ sài so với phái lý khí đã hình thành một hệ thống lý luận áp dụng kinh dịch đến độ tinh vi thể hiện ở ba điểm sau :

Một là : Về mặt phương hướng người xưa đã tiến hành đưa quẻ vào từng phương vị của lục thập thấu địa long, thất thập nhị xuyên sơn hổ rồi từ đó tạo ra ba vòng thiên nguyên, địa nguyên và nhân nguyên qui tàng quái phân kim sau đó tiến hành đưa quẻ vào đến từng long khí rồi dựa trên hai nguyên tắc "Có động mới có dụng" và "cùng tất biến" để diễn quái kết hợp với mệnh chủ biến theo không gian, thời gian cùng hoạ phúc của họ mà luận cát hung…

Hai là : Về mặt thời gian trên cơ sở của huyền không phi tinh kết hợp với huyền không đại quái đã mang lại đỉnh cao cho huyền không học – Môn môn phong thuỷ bí truyền mới được phổ biến ra dân gian từ đời Thanh

Ba là : Việc ứng dụng của Mai hoa dịch số, Bốc phệ, quẻ Khổng Minh … vào phong thuỷ tạo thêm một cơ sở kiểm chứng cũng phát triển mới đưa phong thuỷ nên một tầm cao mới nhất là trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

Mệnh: Con người là chủ nhân của quả đất, là tinh hoa của vũ trụ, là linh trưởng của vạn vật. Tất cả những gì mà con người nghiên cứu là nhằm mục đích phục vụ cho chính họ. Vì vậy không nằm ngoài - con người cũng là một đối tượng nghiên cứu chính của phong thuỷ. Cơ chế nào chi phối cho sự ăn nhập của cá nhân con người (nhân mệnh) với năng lượng Phong Thuỷ là điều mà Phong Thuỷ học cần giải quyết.

Phong Thuỷ hiện đại ngay nay đã đổi khác nhiều so với Phong Thuỷ cổ đại. Khi mà chu kỳ vận động của xã hội đang diễn ra một cách chóng mặt. Cầu, cống, đường xá, sân bay, bến cảng... ngày ngày được xây dựng, các phương tiện máy móc... hoạt động không ngừng. Con người ngày càng bị chi phối nhiều hơn bởi các yếu tố nhân tạo do vậy đòi hỏi Phong Thuỷ hiện đại cũng phải có một cái nhìn mới với một hệ thống lý thuyết mới trên cơ sở kế thừa và phát triển lý thuyết cổ xưa.

3- Các Chứng Nghiệm Phong Thuỷ:

Các chứng nghiệm về Phong Thuỷ hiện nay không thiếu tuy nhiên có rất ít người hiểu được sự thật của Phong Thuỷ để tin đó là một chứng nghiệm. Bản thân những người đã từng nghiên cứu Phong Thuỷ hàng nhiều chục năm vẫn mày mò, thắc mắc, trăn trở tại sao cuộc đất đẹp như thế về “hình thế” mà mãi không thấy phát? Tại sao ngôi nhà đúng vận, hướng, toạ hợp cách mà vẫn có tai hoạ. Tại sao và tại sao?

Tại vì có sai lầm trong nghiên cứu. Tại vì chưa học được chân địa lý. Tại vì áp dụng chưa linh hoạt trong cuộc sống hiện tại...

Xưa nay Thày xem địa lý chỉ xem chỗ kết huyệt thấy đẹp cho là đắc ý mà chưa biết huyệt đó là giả hay chân, long mạch lành hay dữ đó là sai lầm thứ nhất. Long mạch vận hành có chu kỳ lúc vượng lúc suy đặt vào lúc suy đó là sai lầm thứ hai. Long là nội khí, vận là ngoại khí đặt mộ làm nhà vào lúc nội ngoại khí không gặp đó là sai lầm thứ ba. Dương trạch không trên long mạch lấy ngoại khí làm trọng lấy nội khí làm phụ, âm trạch lấy nội khí làm trọng ngoại khí làm phụ nay dùng Phi Tinh cho cả hai đó là sai lầm thứ tư (dương trạch áp dụng Phi Tinh có ứng nghiệm nhất định). Mệnh chủ không hợp cưỡng cầu dùng đất phá hại long mạch đó là sai lầm thứ năm. Làm nhà đặt mộ không theo bổ long tướng chủ đó là sai lầm thứ sáu. Không hiểu Phong thuỷ làm theo “tạp thư” đó là sai lầm thứ bẩy... Sai lầm tức Phong Thuỷ sẽ bất ứng là lẽ dương nhiên đấy là còn chưa kể không sai lầm mà chưa tới thời tới chốn thì không nghiệm cũng là chuyện thường tình...Thế mới nói Phong Thuỷ bản thân nó không sai nhưng rất dễ bị hiểu sai là vậy.

Các chứng nghiệm sau dựa trên những sự kiện có thật và các thông tin xác thực bằng các thực tế kiểm nghiệm tại hiện trường. Xin đưa ra độc giả cùng thưởng lãm và chiêm nghiệm:

a- Một dòng họ có nhiều người đỗ Tiến sĩ do mộ tổ.

Chứng nghiệm này là một câu chuyện đã được nhắc tới rất nhiều trong làng Địa Lý Phong Thuỷ thời phong kiến Việt Nam và đến nay vẫn còn được rất nhiều người nghiên cứu Phong Thuỷ để mắt nghiên cứu. Câu chuyện thật này xoay quanh dòng họ Nguyễn ở làng Kim Đôi còn có tên là Dủi Quan (nghĩa là người dân nơi đây từng sống bằng nghề dủi tôm cá ngoài đồng và sông, đồng thời có lắm người làm quan). Nằm bên bờ Nam sông Cầu, cách tỉnh lỵ Bắc Ninh dăm cây số, làng Kim Đôi hàng thế kỷ được mệnh danh là một trong những "lò tiến sĩ"của nước ta và nổi tiếng qua câu ca lưu truyền đã ghi trong cuốn Phong thổ Kinh Bắc thời Lê:

Kim Đôi nhiều cuộc hiển vinh
Hai mươi lăm vị khoa danh rỡ ràng.

(Trong đó bẩy vị tiến sĩ họ Phạm được xác định là đất tổ phát ở Bình Giang Hải Dương)

Vua Lê Thánh Tông từng bảo thị thần rằng: "Gia thế Kim Đôi chu tử mãn triều" (Dòng họ Kim Đôi áo đỏ áo tía đầy triều). Ngày nay nơi đây đã được nhà nước công nhận là một di tích lịch sử và đền thờ 18 vị tiến sĩ là một điểm du lịch văn hoá của Bắc Ninh.

Họ Nguyễn sống ở làng sinh ra mười tám (18) Tiến Sĩ thời phong kiến từ Trần tới Lê, Nguyễn do có được ngôi mộ tổ đắc khí. Đến thời Pháp người ta đắp con đường đê sau mộ 10 mét và xẻ cống đứt cuống mạch làm hỏng ngôi mộ. Mấy người thanh niên trong dòng họ đỗ tú tài đang học hành tấn tới đột nhiên ngã bệnh chết thế là hết phát.

Long mạch của ngôi mộ xuất phát từ Tổ long tuyệt đẹp long lâu bảo điện , bác hoán phân nhánh nhiều vô số, mỗi nhánh đều có huyệt lớn đủ cả quan, quỉ, cầm, diệu… nhánh chính chạy về đột khởi Tam đảo sơn hình con rết bò (kiểu song nghênh song tống) chạy qua Bắc Ninh, Hà nội, Hưng Yên, Hải dương, Thái Bình và một phần Hải phòng. Kẹp long mạch vào giữa là hai dòng sông lớn là sông Hồng và Sông Thái Bình. Long mạch Tam Đảo sau khi vượt sông Cà Lồ thoát bớt sát khí bắt đầu phân ra nhiều chi long kết huyệt. Một mạch chính sau khi kết huyệt lớn tại Đình Bảng tiếp tục chạy về hướng đông nam đột khởi tinh phong giữa vùng đồng bằng khoáng dã là núi Lạn Kha ở xã Phật Tích, xã Hạp Lĩnh rồi chạy tiếp tới xã Vân Dương và Nam sơn nơi có ngôi chùa Hàm Long nổi tiếng trên đỉnh núi. Long mạch của núi phân chi chạy ngược lên phía bắc dọc theo ngòi Tào Khê đến sông Cầu bỗng quay ngược trở lại kết huyệt. Ngòi Tào Khê này uốn lượn mấy vòng trước khi hoà vào sông Cầu ở phía tả ngạn. Ngôi mộ nằm trên một dải đất nhỏ hẹp bên bờ sông Cầu chầu ra ngòi Tào khê cách mép nước chừng 10 mét. Xét dưới góc độ phong thuỷ mộ này đắc cách: Thuỷ bao Huyền Vũ; Nước nhiễu tứ thành; Minh đường cửu khúc nghịch chiều; Long sa bút Tốn; Hổ đới bảng Tân phát phúc viễn trường thiên về học vấn. Thật là không tận mắt chứng kiến thì khó mà tin được!

b- Đất Đức Thọ Hà Tĩnh có gì mà nhân tài sinh ra không dứt?

Chữ Đức trong từ Đức Thọ có nguồn gốc từ Cửu Chân, Cửu Đức, Đức Châu, Đức quang, Đức Thọ. Huyện Đức Thọ nay đông bắc giáp huyện Hưng Nguyên ngăn cách bởi sông Lam và Huyện Nam Đàn, Đông giáp huyện Nghi xuân và Huyện Can Lộc, Nam giáp huyện Hương Khê, Tây giáp huyện Hương Sơn. Huyện có sông La chảy ở phía Bắc huyện ra sông Cả (sông Lam) ở phía thượng lưu chợ Tràng. Huyện lị trước ở Yên Hồ, nay dời về chỗ cũ ở cạnh sông La và đường xe lửa. Nay ở Linh Cảm trước có đường quốc lộ 8 chạy qua nối liền Vinh với nước Lào. Linh Cảm hồi thuộc Pháp là địa lý hành chính của Tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở ngã ba sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu và Sông La. Ngày xưa có đền thờ Đinh Lễ, đóng quân ở đó hồi kháng chiến chống Minh. Hai xã Vân Tràng và Trung Lương có nghề rèn được huy động đúc súng kiểu 1874 cho nghĩa quân Hương Khê. Tại Linh Cảm sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Nguyễn Thân cho dựng bia kỷ công, năm 1918 bị nhân dân đánh đổ. Linh Cảm bị Pháp ném bom năm 1949 phá trụi đồi thông, làm chết hàng trăm người...

Các nhân vật sinh ra tại Đức Thọ xưa có: Phan Anh, Phan Điện, Nguyễn Biểu, Đoàn Tử Quang, Hoàng xuân Hãn, Lê Huân, Lê Thước, Bùi Thúc Kiên, Bùi Dương Lịch, Hoàng Cao Khải, Phan Trọng Mưu, Trần Phú, Phan Đình Phùng, Lê Văn Quyên, Đào Tiêu, Phan Tam Tĩnh, Phan Đình Tuyển, Hoàng Trừng, Hoàng Ngọc Phách, Phạm văn Huyến, Thái can, Phạm khắc Hoè. Trong số những người nổi tiếng hiện nay, từ huyện Đức Thọ có: Giáo sư, TSKH, Viện sĩ Vật lý Đào Vọng Đức; Nữ luật sư Ngô Bá Thành; Giáo sư văn học Hoàng Xuân Nhị; Giáo sư văn học, nhà giáo nhân dân Nguyễn Kim Đính; Giáo sư- nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến; Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Vĩnh Diệu (anh hùng lao động); Giáo sư, nhà sinh học Võ Quý; Giáo sư lâm nghiệp Lê Đình Khả; Giáo sư toán học Đinh Văn Huỳnh (Đại học Ohio, Ohio, Hoa Kỳ); nhà văn hóa Hà Xuân Trường; Giáo sư- nhà Đông Nam Á học Phạm Đức Dương; Võ Hồng Phúc (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư); Giáo sư Hà Học Trạc, (Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam); Tiến sĩ Hà Học Hợi (Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương), Đạo diễn sân khấu Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành, Nhà báo Phạm Khắc Lãm (nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam);luật sư Trịnh Hồng Dương (nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam) Giáo sư, bác sĩ, Anh hùng Lao động Trần Quỵ (Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai); Giáo sư Mai Trọng Nhuận (Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội); Giáo sư, Tiến sĩ, Nghệ sĩ nhân dân, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Trần Bạch Thu Hà (Nguyên Giám đốc Nhạc viện Hà Nội), nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị; Nhà nhiếp ảnh Phan Thoan (tác giả bức ảnh O du kích nhỏ)... và rất nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, chính khách và doanh nhân nổi tiếng khác.

Đức Thọ có đặc điểm Phong thuỷ gì mà sinh lắm nhân tài như vây? Long mạch phát nguyên từ tổ sơn Hymalaya kẹp giữa biển Đông và sông Mekông chạy qua Trung Quốc, Lào đi vào Việt Nam. Tổ sơn Long Lâu Bảo Điện, Thiếu tổ có dạng Thuỷ Tinh dẫn mạch chạy xuống phía nam bắt đầu phân nhánh. Nhánh Thứ nhất uốn lượn chạy về cuối tỉnh Thanh Hoá rồi vào Nghệ an phân nhánh kết tại Quỳnh lưu, Thanh Chương và Nam Đàn. Nhánh chính tiếp tục chạy xuống phía nam rồi phân nhánh lần thứ hai, long mạch của dãy Trường sơn phân nhánh chạy ra biển ở khu vực đèo Ngang bác hoán chạy ngược theo sông Ngàn Sâu về Tùng ảnh Đức Thọ kết huyệt. Huyệt này nằm bên Tả ngạn của sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố và sông La. Tại đây các con sông hợp lưu uốn lượn đẹp như bức tranh thuỷ mạc, nước sông trong vắt hữu tình nên phụ nữ nơi đây nổi tiếng xinh đẹp với nước da trắng và mái tóc dài. Xét trên phương diện phong thuỷ đất này có những cách hay sau:

1- Long mạch quí Long Lâu Bảo Điện bác hoán sinh chi cước song nghênh song tống

2- Long dẫn mạch ra tận mép sông Ngàn sâu nên đạt tiêu chuẩn quân bình âm dương.

3- Phía bên kia sông có một dãy núi đồn khí chầu về tác án

4- Sông Ngàn Phố uốn khúc chạy từ Hương sơn về hoà với sông Ngàn Sâu nên đắc cách nghịch thuỷ uốn khúc chiều đường.

5- La tinh đột khởi giữa dòng hãn khí

6- Nội thuỷ là sông Linh Cảm dẫn mạch nhập dòng hãn khí

7- Sông cắt ngang ôm lấy long mạch khuất khúc mấy vòng nước trong và sâu hợp với sông La chạy ra biển.

8- Cửa khẩu ngoài có La tinh chấn giữ còn có Thuỷ Khẩu Sa là núi Hồng lĩnh án ngữ.

9- Dư khí Hồng Lĩnh của long mạch còn kết bàng huyệt ở làng Tiên Điền chứng tỏ cho sự xung mãn của long mạch. Hòn Ngư ngoài của biển là chốt chặt cuối cùng minh chứng cho một quí long dù chỉ là hình tượng

Đây là một cuộc đất rất hoàn mỹ về mặt Phong Thuỷ dù chỉ là một “tiểu tụ” trên dãy Trường Sơn hùng vĩ. Một chứng nghiệm Phong Thuỷ không thể bàn cãi về cuộc đất nơi sơn cốc.

c- Ba miền quê của các nhân tài đất bắc:

Tỉnh Hà Đông với trung tâm là huyện Thanh Trì (về mặt Phong thuỷ). Hà đông là tỉnh ở bắc bộ do pháp lập ra năm 1888. Tỉnh lị ở làng Cầu Đơ, nên tỉnh lúc này gọi là tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 mới đổi tên là tỉnh Hà Đông. Vị trí của tỉnh Hà Đông nằm ở phía tây sông Nhị Hà ( đáng lẽ ra, theo lý do đó, tỉnh này phải gọi là Hà Tây mới đúng, nhưng có lẽ những người đặt tên tỉnh lấy lý do là tỉnh này là đất văn vật như đất Hà Đông bên Trung Quốc). Tỉnh Hà Đông gồm một thị xã, tỉnh lị ở trên dòng sông Nhuệ và chín huyện : Chương Mỹ, Đan Phượng, Từ Liêm, Hoài Đức( nay là Mỹ Đức), Phú Xuyên , Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hoà, sau năm 1963 hợp nhất với tỉnh Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây, tỉnh lị vẫn ở Hà Đông . Năm 1977, bị cắt các huyện Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Phúc Thọ ,Ba Vì và một phần huyện Chương Mỹ Về Hà Nội, sau lại trở về tỉnh Hà Tây. Tỉnh Hà Đông hồi pháp thuộc có nhiều nghề thủ công phát đạt, quê hương của rất nhiều các nhân vật nổi tiếng xưa nay: Chu Văn An,Hoàng Tăng Bí,Bùi Huy Bích, Bùi Bị, Lương Văn Can, Đặng trần Côn, Nguyễn quí Cảnh, Lê ngô cát, Nguyễn Công Cơ,Dương bá Cung , Ngô Đình Chất, Phạm Giao, Ngô Thời Du, Nguyễn Danh Dự, Lê Đại, Từ Đạm, Nguyễn Như Đỗ, Nguyễn Quí Đức, Đỗ Thế Gia ,Vũ Phạm Hàm , Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trọng Hợp, Đặng Huấn,Nguyễn kiều, Nguyễn Bá Kỳ, Nguyễn Phi Khanh, Dương Khuê, Dương Lâm, Ngô sĩ Liên, Nguyễn hữu liêu , Đặng Đình Long, Đoàn Trần Nghiệp, Ngô Thời Nhậm, Nhàn Khanh, Đào Quang Nhiêu, Lý Ông Trọng, Phan Lê Phiên, Lý Trần Quán, Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Quyện, Phạm Quỳnh, Hà Tống Quyền, Nguyễn Siêu, Ngô Thời Sĩ, Lý tử tấn , Phan Phù Tiên, Phạm Tu, Đặc Đình Tướng, Nguyễn Công Thái , Trình Thanh, Tô Hiến Thành, Nguyễn hải thần , Nguyễn Danh Thế, Nguyễn Thuyến, Nguyễn viết Thứ, Đặng Trần Thường, Bùi Xương Trạch ,Nguyễn Trãi, Vũ Công Trấn, Nguyễn quốc Trinh, Nguyễn Thời Trung, Nguyễn Trực, Lưu nguyên Ân,Bùi bỉnh Uyên, Bùi Vịnh... Hiện nay còn có rất nhiều các nhân vật làm lớn đang tại chức.

Nói về huyện Thanh Trì: Huyện thuộc phủ Thường Tín, Tỉnh Hà Nội (1831) sau thuộc Hà Đông (1888) nay nhập vào Hà Nội. Trước là châu Thượng Phúc về đời Lý sau là huyện Long Đàm. Đời Lê vì kị huý tên vua Lê Thế Tông đổi là huyện Thanh Trì. Huyện bắc giáp quận Hai bà Trưng và huyện Từ Liêm. Đông giáp sông Hồng ngăn cách với huyện Gia Lâm và văn Giang. Nam giáp Thường Tín. Tây giáp Hoài Đức. Huyện có nhiều đầm tự nhiên : Linh Đường, Thánh Liệt (đầm Sét), Vạn Xuân, đầm Mực...Từ thời Lê về trước có 60 người thi đỗ đại khoa. Đình ngoài Thanh Liệt thờ Phạm Tu, đình trong thờ Chu Văn An, đình Đông Phù Và Việt Yên thờ sứ quân Nguyễn Siêu, đình Tả Thanh Oai thờ Lê Đại Hành, đình Quí Đô thờ Tô Hiến Thành, đình Triều Khúc thờ Phùng Hưng. Quê của Lê Đình Diên, Bùi Huy Bích, Chu văn An , Bạch Thái Bưởi, Đặng Trần Côn, Đồ Lệnh danh, Phạm Quỳnh, Phạm Dao, Nguyễn Phương Đỉnh, Nguyễn Như Đổ, Nguyễn trọng Hợp, Nguyễn Hải Thần, Trần Hoà, Lê Bá ly, Nguyễn Nghi, Hoàng thị Ngọc san, Lê San, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thái, Nguyễn Công Thể, Đỗ Lệnh thiên lưu Tiệp, Bùi xương Trạch, Nguyễn Quốc Trinh, Bùi Trụ, Nguyễn Đình trụ,Phạm Tu, Nguyễn Huy Túc, Lưu nguyên Uân, Cung Đình Vận, Nguyễn Viêm, Viễn Chiếu Thiền Sư, Đàm xuân Vực ... đất này thực chất đã sinh ra "Vua"...

Tại sao miền quê này có nhiều nhân tài đến vậy? Xin thưa đó là phong thuỷ hợp cách.

Trước khi tiến hành phân tích về phong thuỷ chúng ta sẽ tiếp tục du ngoạn tới vùng đất thứ hai đó là Bắc Ninh với trung tâm là huyện Đông Ngàn.

Bắc Ninh tỉnh ở phía đông bắc thành Hà Nội, đời Lê là trấn Kinh Bắc, năm Minh Mạng thứ ba (1822) đổi là trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi là tỉnh Bắc Ninh. Năm 1895, Pháp chia tỉnh Bắc Ninh thành hai tỉnh Bắc Ninh và Lục Nam (sau năm 1963 đổi là tỉnh Bức Giang), sau hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc nay lại tách ra như cũ. Tỉnh Bắc Ninh hồi Minh Mạng gồm phủ từ sơn (huyện Đông Ngàn do phủ kiêm lý), huyện Tiên Du, huyện Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong, phủ Thuận An, sau đổi là Thuận Thành ( gồm huyện Gia Lâm , Văn Giang, Gia Bình, Lạng Tài), Phủ Thiên Phúc, Phủ Lạng Giang. Tỉnh bắc Ninh phía tây có sông Hồng ngăn cách với Hà Nội, khoảng giữa có sông Cầu chảy đến Phả Lại, thì gặp sông Đuống với sông Thương. Vùng Lạng Giang thì núi non hiểm trở, còn vùng Bắc Ninh thì ruộng đồng bằng phẳng , xanh tốt, thỉnh thoảng có những đồi núi thấp có tên tuổi gắn với lịch sử như : núi Sóc Sơn, núi Tiên Du, núi Vũ Ninh, núi Thiên thai. Bắc Ninh có tiếng là đất văn vật nhất của cả nước, có Lê văn Thịnh đỗ trạng nguyên đầu tiên về đời Lý, Nguyễn Quan Quang trạng nguyên đầu tiên về đời Trần, số trạng nguyên và tiến sĩ nhiều nhất so với các tỉnh khác, là quê hương của : Hoàng Hoa thám, Đốc Quế, Đốc Sung, Đốc Mỹ, Lãnh Điềm, Hai Tước, Đốc Tác, Quản Kỳ, Đội Văn, Lãnh Giới, Lãnh Giám , Lãnh Thiết, Cai Bình, Cai Biên, Đề hoàng, Đề Năm , Đề Kiều, Nguyễn Án, Trần danh Án, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Cao, Nguyễn Đăng Cảo, Phạm Huy Cơ, Nguyễn Văn Cừ, Đào Cử, Nguyễn tự Cường, Đặng Công Chất, Trần Quang Châu, Phó Đức chính, Lê duy Đản, Nguyễn Cư Đạo, Nguyễn Tư Giản, Trương hát, Trương Tống, Đặng thị Huệ, Đàm Thuận Huy, Sư Huyền Quang, Phạm Khiêm Ích, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Bá Kỳ, Hoàng Sĩ Khải, Trần Danh Lâm, Đoàn văn Lễ, Ngô Luân, Lê tuấn Mậu, Cao bá Nhạ, Lê Quýnh, Nguyễn Quyền, Hoàng Công Phu, Nguyễn quan Quang, Cao Bá Quát, Nguyễn Đăng Sở, Nguyễn Mậu Tài, Dương Trọng Tế, Ngô Thầm, Nguyễn Miễn Thiệu, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thủ Tiệp, Hứa tam Tĩnh, Ngô sách Tuấn, Nguyễn Thiên Túng, Nguyễn nghiên Tư, Nguyễn Gia Thiều, Ngô miễn Thiệu, Nguyễn Nhân Thiếp, Lê văn Thịnh, Nguyễn Thực, Phạm Văn Tráng, Lý Công Uẩn, Sư Vạn Hạnh …

Đông Ngàn huyện thuộc Phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc về đời Lê, có 13 tổng, địa thế rộng, trước là châu Cổ Lãm, Lê Đại Hành đổi là châu Cổ Pháp, nhà Lý đổi là phủ Thiên Đức, tên Đông Ngàn xuất hiện từ thời Trần, đời Minh là huyện Đông Ngàn phủ Bắc Giang, Lê Thánh Tông đổi thành phủ Từ Sơn… Đây là huyện có truyền thống văn hoá lâu đời (130 người đỗ đại khoa đến hết triều Lê và 174 người hết triều Nguyễn). Quê hương của rất nhiều nhân sĩ như Nguyễn Án, Nguyễn Tự Cường, Đặng công Chất, Nguyễn Chính, Nguyễn Tư Giản, Quách Giai, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Đình Huấn, Nguyễn văn Huy, Trần Lâu, Nguyễn Hữu Nghiêm, Nguyễn Giáo Phương, Nguyễn Quan Quang, Phạm Thái, Nguyễn Giản Thanh, Ngô miễn Thiệu, Nguyễn Thực, Ngô Thế Tri, Ngô Gia Tự, Lý Công Uẩn, Vạn thế Thiền Sư…đây cũng là đất phát chín đời vua lý đặt dấu ấn cho thời kỳ hưng vượng của đất Việt

Miền quê thứ ba là tỉnh Hải Dương mà trung tâm là huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

Hải Dương là tỉnh ở bắc bộ, xưa giáp sông Hồng, ở về phía đông của kinh thành, nên còn gọi là tỉnh Đông. Về đời Lê là một trong tứ nội Trấn (Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương). Năm 1466 gọi là thừa tuyên Nam Sách, năm 1469 đổi là thừa tuyên Hải Dương, Vua tương Dực đổi là trấn Hải Dương. Đời Mạc trích các phủ Thuận An thuộc Trấn Kinh Bắc, Phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình thuộc trấn Sơn Nam cho thuộc về trấn Hải Dương vì là quê hương của nhà Mạc. Sau nhà Lê xoá bỏ những việc làm của nhà Mạc, trấn Hải Dương trở về địa giới cũ. Năm 1831 đặt là tỉnh Hải Dương gồm phủ Thượng Hồng sau đổi là Phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng sau đổi là phủ Ninh Giang, Phủ Nam Sách ( huyện Thanh Lâm do phủ kiên lí), phủ Kinh Môn. Năm 1968 sát nhập tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, nay lại tách ra như cũ. Tỉnh Hải Dương, trừ huyện Đông Triều có dẫy Yên Tử cao từ 837m đến 1068m và huyện Chí Linh có núi Phả lại, núi Côn Sơn không cao mấy còn ra toàn đồng bằng được tưới tiêu bằng các sông Thái Bình chảy qua giữa tỉnh và các chi lưu Sông Kinh Thầy, Sông Kinh Môn, Sông Luộc làm biên giới với tỉnh Thái Bình. Tỉnh Hải Dương là tỉnh giầu có về sản xuất lương thực và nghề thủ công, lại là tỉnh văn vật có nhiều người thi đỗ đại khoa về đời Lê và đời Nguyễn. Quê hương của nhiều nhân vật lịch sử : Phạm Ban, Lại kim Bảng, Nguyễn thái Bạt, Mạc Thị Bưởi, Vũ Cán, Nguyễn Hữu Cầu, Lý Tử Cán, Nguyễn Cừ, Trần Quốc Trân, Mạc Đĩnh Chi, Trần Khắc Chung, Lê thiếu Đĩnh, Khúc Thừa Dụ, Nguyễn Thị Duệ, Mạc Đăng Dung, Trần Khánh Dư, Nguyễn Dữ, Trần Nguyên Đán, Vũ Phương Đề, Vũ Duy Đoán, Phạm Đồn, Phạm tiến Đức, Đoàn Nhữ Hải, Đinh nhã Hành, Phạm Hạp, Ngô Hoán, Phạm Đình Hổ, Lương Nhữ Hộc, Nguyễn Huân, Lê Huân, Phạm chí Hương ,Vũ Hữu, Trần Thời Kiến, Yết Kiêu, Bùi Bá Kỳ, Trần Quốc lặc, Phạm Cự Lượng, Nguyễn mại, Phạm Tông Mại, Phạm sư Mệnh, Vù Văn Mật, Lê Nại, Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Trác Oánh, Pháp Loa, Trần Phong, Đinh Văn Phục, Đỗ Quang, Phạm quỳnh, Võ quỳnh, Đinh văn Tả, Nguyễn Quý Tân, Vũ Huy Tấn, Mạc Hiển Tích, Đốc Tít, Nhữ Đình Toản, Vũ Như Tô, Lê cảnh Tuân, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Tiển, Thái Thuận, Trần Đình Thám, Đinh văn Thảm, Phạm Quý Thích, Đoàn Thượng, Phạm Đình Trạc, Phạm Đình Trọng, Pham Công Trứ, Vũ văn Uyên... Đất này cũng đã phát bá nghiệp cho nhà Mạc, hiện nay có rất nhiều các nhân vật chủ chốt đang tại chức cũng sinh ra tại đây.
Nam Sách tên phủ lộ về đời Trần, đời Lê và đời Nguyễn, gồm các huyện Thanh lâm, Chí Linh, Thanh Hà. Phủ Nam sách có sông bao quanh (sông Lục Nam, Lục Đầu, Thái Bình, Kinh Thầy). Phủ nổi tiếng về văn học. Từ đời Lê về trước, có 165 người đỗ đại khoa, nhiều nhất các phủ trong toàn quốc, riêng huyện Thanh Lâm có 93 người là huyện đỗ đạt cao nhì nước sau huyện Đông Ngàn 130 người.

Trên đây là ba miền quê có nhiều nhân tài của đất bắc. Ta hãy phân tích xem chúng có những đặc điểm phong thuỷ gì? Từ xưa đến nay các phong thuỷ sư thực thụ đều phải bắt đầu từ đại cục - nhìn đại cục mà đoán định sự suy thịnh của một nước trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai, nó gắn liền với sự hưng vong của đại đô, tiếp đó mới xét tới trung cục để định rõ sự thịnh vượng hay suy tàn của đại quận, châu phủ - biết mà dùng vào việc bổ trợ nguyên khí cho đế đô, cuối cùng mới xét đến tiểu cục – nhìn nó mà thấu hiểu vận mệnh của làng xóm, gia tộc và cá nhân con người, nói thì tách bạch như vậy nhưng luận thì chúng là một thực thể thống nhất. Cũng chính vì lý do như vậy mà khi luận long kết huyệt ta phải phân ra "tam tụ". "Đại tụ" là nơi có thể làm đại đô của một nước. "Trung tụ” thích hợp cho đại quận châu phủ là các thành phố vệ tinh tiếp sức cho đại đô. "Tiểu tụ" dĩ nhiên là cho tạo làng đặt xóm hay dương cơ và âm phần.

Nhìn tổng thể hình sông thế núi của Đất Việt Ngàn Năm cả đồng bằng sông Hồng là đại cục mà nguyên khí đại tụ tại Thăng Long, xứng đáng là đại đô nhiều đời (tuy vậy cần có nhiều cải tạo mới phát huy hết sức mạnh vốn có của nó, bản thân Thăng Long cũng có rất nhiều phá cách), vận mệnh của quốc gia phần nhiều được quyết định bởi phong thuỷ của đại cục này. Xét tới ba tỉnh Hà Đông , Bắc Ninh và Hải Dương là trung cục mà nguyên khí "trung tụ" tại ba huyện Thanh trì, Đông ngàn và Thanh Lâm, ba nơi này tạo thành thế chân vạc tiền, tả, hữu hỗ trợ nguyên khí cho Thăng Long (Tất nhiên còn nhiều trung cục khác hỗ trợ). Để thấy được sự độc đáo của mỗi vùng chúng ta sẽ lần lượt tiến hành phân tích hình sông thế núi của ba khu vực này:

Tỉnh Hà Đông với trung tâm là huyện Thanh Trì toạ lạc trên một miền đất đồng bằng lưng dựa núi mặt hướng thuỷ là nơi long đình khí chỉ của một một long mạch tới từ Tây Tạng Trung Quốc. Long mạch - Chi trung kết cán- cỡ trung bình chạy theo hướng tây bắc đông nam (kẹp bởi hai đại giang là Đà giang và Mã Giang) bắt nguồn từ sơn nguyên Tây Tạng chạy qua Vân Nam Trung Quốc hướng về phía nam qua Lào vào Việt Nam tại tỉnh Điện Biên, Lai châu với các dãy núi cao trên 2000m. Khi tiến vào Việt Nam long bắt đầu thoát xác từ già hoá trẻ- dấu hiệu của sinh khí tăng dần, đến khu vực rừng Cúc Phương trung cán long này thúc yết rồi phân ra làm bảy nhánh. Nhánh thứ nhất chạy về tam điệp Ninh Bình. Nhánh thứ hai chạy về Hà Trung Thanh Hoá. Nhánh thứ ba chạy về Hoa Lư Ninh Bình. Nhánh thứ năm chạy về Hoà Bình. Nhánh thứ sáu chạy về Nam Định. Nhánh thứ Bẩy chạy về Hà Nội phân ra hai chi:

Tả chi quay ngược lên phía bắc đi theo Đà giang tạo thành dãy Ba vì hùng vĩ với ba ngọn núi là núi Ông, núi Bà (1120m) và núi Chẹ ( Tản Viên 1287m), ngọn giữa Tản Viên có hình thắt cổ bồng, trên toả ra như cái tán ( long mạch đại quí cách chỉ tiếc càn long khởi tổ đến khi kết huyệt lại chuyển từ hướng ly do vậy kiền long bị lửa đốt lúc phát thì lớn mà chẳng bền có lẽ vậy mà đất Đường Lâm sinh hai Vua hiển hách mà chỉ trụ được có một đời thật là tiếc quá).

Hữu chi khí mạch trung tụ nhất chạy về phía đông bắc "băng hồng" qua sông Đáy thoát hết sát khí hướng về Thăng Long Hà Nội đột khởi tinh phong tại Trúc Sơn rồi phân ra ba tiểu chi. Một chạy về Đông Ngạc, Một chạy về Thành Hà Nội Cổ và một chạy về huỵên Thanh Trì. Tại nơi kết thúc ở Thanh Trì hàng loạt các gò đống đột khởi như một hệ thống mà phía trước là một loạt các đầm nước tự nhiên trong và sâu nổi tiếng (Phía giáp Thanh Trì với sông Hồng là rốn nước của thành phố) tạo thành một trong năm các thức kết huỵêt gọi là "Cứ thuỷ cục" với ngoại cục là con sông Hồng bao bọc. Tới đây chắc các bạn đã rõ vì sao nơi này không những đã phát vua mà còn chiếm tới 70% nhân tài của một vùng rộng lớn rồi.

Tỉnh Bắc Ninh tương tự như tỉnh lị Hà Đông toạ lạc trên một miền đất đồng bằng bằng phẳng có triều cao từ 20 đến 50 m so với mặt nước biển, lưng dựa núi mặt nhìn núi xa xa về phía đông là Lục Đầu giang ( cách cục đặc biệt). Tỉnh là nơi kết thúc của một long mạch đại cán phát nguyên từ Tây Tạng rẽ nhánh về phía đông đi qua Trung Quốc, một chi long của đại cán long này rẽ nhánh xuống phía nam tạo thành cánh cung Ngân Sơn cao trên 1800 m chạy xuống miền bắc của nước Việt qua Cao Bằng, Bắc Cạn chi long này trẻ hoá. Trên đường đi của cánh cung Ngân Sơn một chi long nhỏ tiếp tục tách ra chạy theo hướng tây nam tạo ra núi Phia Booc cao 1578 m đi qua Tuyên Quang (kẹp giữa hai sông Thao và Cầu) chuyển hướng đông nam đột khởi lên dãy Tam Đảo có 3 đỉnh nhô lên liền nhau gần Thác Bạc, như ba hòn đảo: Phù Nghĩa, Thạch Bàn và Thiên Thị cao tương ứng 1250m, 1420m, 1591m. Dãy Tam Đảo tiếp tục di chuyển theo hướng đông nam khởi núi Sóc Sơn băng qua sông Cà Lồ, trung tụ tai huyện Đông Ngàn, dư khí còn tiếp tục di chuyển đột khởi một loạt các dãy núi chay theo hướng bắc nam là Tiên Du, Vũ Ninh và Thiên Thai ngăn lấp lấy minh đường trước mặt. Thế của long gia thì thật là kém so với cuộc đất Hà Đông tuy vậy nó lại quí ở chỗ có nhiều các chi long khác chầu về như cánh cung Sông Gâm, cánh cung Bắc Sơn, dẫy Cai Kinh, dẫy Mẫu Sơn và cánh cung Đông Triều, nên cuối cùng thì sinh khí chầu tụ xem ra lại nhỉnh hơn so với thế đất của tỉnh Hà Đông.

Xét riêng huyện Đông Ngàn là một vùng đồng bằng phì nhiêu lưng dựa vào dãy Tam Đảo có hình "thương khố", dãy Sóc Sơn và vùng Cổ Loa, phía trước hướng về Lục Đầu giang lại bị ngăn lấp bởi ba dãy núi Tiên Sơn, Vũ Ninh và Thiên Thai chính là đại quí cách kết huyệt mà không cần có nước trong phong thuỷ gọi là "Can pha cục". Xin trích một đoạn trong sách cổ để thấy cái trí của Tiền Nhân: "Phía trước địa huỵêt không có thuỷ lưu, không tìm thấy thuỷ, núi non hai bên tiền, tả, hữu chắn ngang ngăn lấp minh đường là đại quí địa nếu hành long có hình thương khố". Đến đây thì chắc ai cũng hiểu tại sao Đông Ngàn lại là huyện có nhiều người đõ đạt cao đến như vậy, thêm nữa vì hành long có hình "thương khố' nên đây cũng là huyện giầu nhất miền bắc nếu không muốn nói là cả nước có nhiều nhân vật sinh ra tại đây có tài sản lên tới hàng ngàn tỷ đồng Việt Nam. Ai có dịp ghé thăm Đền Đô thờ tám vị vua nhà Lý ( vua thứ chín được thờ tại nơi khác) được nghe câu truyện dòng họ Lý được ngôi đất cửu long tranh châu ( một cụ già còn thuật lại xưa kia khi cụ còn bé khi trời mưa to quả là có nhiều dòng nước chầu về một khu đất) mà phát ra chín đời vua Lý lưu danh sử sách , ngẫm thì cũng không phải là vô lý vì trung cục đại quí cách còn thiếu thuỷ của tiểu cục quí cách nữa thôi là đủ cho đế nghiệp.

Tỉnh Hải Dương toạ lạc trên vùng đất trung tâm đồng bằng bắc bộ. Long mạch của vùng đất là sự tiếp nối của long mạch chạy về Bắc Ninh, xung quanh được bao bọc bởi các con sông chính : S. Thái Bình, Kinh Thầy ở phía đông, S. Lục Nam, Đuống ở phía bắc, S. Hồng ở phía tây và S. Luộc ở phía đông, ngoài ra trong địa phận tỉnh còn có các sông như : S. Rang, S. Kinh Môn, S. Sặt, S. Hương, S. Đá Vách, S. Cẩm Giàng, S. Cửa An, S. Tứ Kỳ, S. Mía… chảy qua mà sông nào cũng uốn lượn hữu tình. Tỉnh có bốn trung tụ là Nam Sách, Gia lộc, Ninh Giang và Bình Giang cách thức kết của bốn trung tụ này đều lấy thuỷ làm trọng.

Xét về sơn, địa mạch của Hải Dương là sự chầu tụ và giao thoa của của 4 địa mạch lớn từ phía tây bắc, bắc, đông và đông bắc đổ dồn về phía Lục Đầu Giang

Xét về thuỷ, Lục Đầu Giang là cách cục thuỷ vô cùng đặc biệt mang lại vượng khí lớn cho cả vùng đất. Ta sẽ đi sâu một chút để phân tích đặc điểm này qua quái tượng

1. Lục đầu mang tượng âm vì lục tượng quái là âm, tụ tại miền bắc là nơi âm sinh đến cực điểm kết hợp với Cửu Long Giang (Cửu Vĩ Long Giang) mang tượng dương vì cửu là dương, tản ra ở miền nam nơi dương sinh đến cực điểm tạo thành thế cửu lục xung hoà âm dương hợp khắc của nước Việt (tượng này nói lên rất nhiều điều …)
2. Âm lục, dương cửu, đầu dương, đuôi âm nên thấy rõ nguyên lý của vũ trụ trong âm có dương, trong dương có âm.
3. Lục Đầu Giang nếu nhìn qua thì thực chất chỉ có 4 dòng thuỷ lai chầu về là: S. Cầu, S. Thương, S. Lục Nam và S. Đuống (S. Thiên Đức) còn hai sông là S. Thái Bình và S. Kinh Thầy là hai dòng thuỷ khứ. Vậy sao gọi là Lục Đầu? Trong lịch sử có ba lần triều cường qua cửa Thái Bình và Bạch Đằng làm đổi dòng của hai con sông này tạo ra những cuộn xoáy lớn tại Lục Đầu (do 6 dòng nước đổ về) Lục Đầu trở về đúng nghĩa của nó là địa tượng sau đó xuất hiện nhân tài xuất chúng là ba vị anh hùng dân tộc gắn liền với hệ thống này là Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trải qua hàng nghìn năm bồi đắp nay cửa sông đã lùi ra xa hiện tượng lục đầu chầu tụ có lẽ không xảy ra nữa.

Huyện Nam Sách là trung tụ mạnh nhất (nay không còn được như xưa) của Hải Dương được bao bọc bởi hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy, đây là cách thức kết mà phong thuỷ gọi là "hoành thuỷ cục" ( thuỷ thành uốn lượn bao bọc). Phần lớn vượng khí của Lục Đầu dồn tụ về khu vực này tạo ra hàng nghìn gò đống lớn nhỏ đột khởi như một hệ thống mà Thanh Lâm là trung tâm, giữa vùng đất tứ bề thuỷ bão con sông Hương uốn lượn như giải lụa nước trong vắt thu hết vượng khí của trời đất về cho Thanh Lâm, điều này giải thích tại sao huyện Nam Sách thị trấn Thanh Lâm từ xưa đến nay nhân tài sinh ra mãi không hết.

Thay Cho Lời kết: Ở đời mọi chuyện chẳng phải tự nhiên, không có gì tự nhiên sinh ra và cũng chả có gì tự nhiên lại mất đi. Cái kết quả của ngày hôm nay ta nhận được tất đến từ cái nhân của ngày hôm trước. Thấu đạt nguyên lý đó tự thấy Phong Thuỷ là học thuật, là trải nghiệm mà bỏ đi cái sự mưu cầu thì tự khắc sẽ đạt được chân Địa Lý.
Các bài viết khác:

Bài viết nhiều người đọc
Hỗ Trợ Trực Tuyến
HÀ NỘI
0906.99.88.55
TP.HCM
0911 99 0000
Tư vấn Phong Thủy
012.6668.8886
TÌM KIẾM nâng cao
 SIM PHONG THỦY CHỌN LỌC
---o0o----
Lộc phát tài vĩnh cửu
0919999683 
Vĩnh cửu
Lộc Phát Tài
Giá 6,8tr

............
GIẢM GIÁ TRONG NGÀY

0982.850.850 | 11,5 tr

0939.920.920 | 7,2 tr

0969.920.920 | 7,9 tr

0962.830.830 | 11,1 tr

0916 16 16 87 | 3,8 tr

0972.668008 | 2,8 tr

0909.06.05.08 | 2,2 tr

0906 186 086 | 3,2 tr

0888 088685 | 1,6 tr

091441 1618 | 1,2 tr

---o0o----
CHỌN LỌC SIM HỢP TUỔI
Sim Phong Thủy giá Rẻ
đã được phân tích kỹ lưỡng
rất tốt cho người sử dụng.
Giá chỉ áp dụng cho dịp Noen 2016
----o0o----

Sim Số Đẹp Viettel
0962.830.830  | 9,500.000
Giá áp dụng đến hết 16h hôm nay
Sim hợp Mạng KIM
Xem Phong Thủy: 10/10

----o0o----
Sim Số Đẹp Viettel
0968888660 | 8 triệu
Sim hợp mệnh Thổ
Xem Phong Thủy10/10

----o0o----
Sim Số Đẹp Viettel
0982.850.850  | 11,500.000 
Sim hợp Mạng Hỏa

----o0o----
Số Đẹp Gmobile
0997727777  | 77,7 triệu
Sim hợp Mạng Thủy

----o0o----

Số Đẹp Viettel Lộc Phát
0972.668008 | 2,5 triệu
Sim hợp Mạng Mộc
Xem Phong Thủy: 9,5/10
-------------
Sim Số Đẹp Vinaphone
0916 16 16 87  | 3,8tr 
Sim hợp Mạng Hỏa
Xem Phong Thủy9/10

----o0o----
Sim Số Đẹp Viettel
097777 8389  | 5,8tr 
Sim hợp Mạng Thủy

----o0o----

Sim Số Đẹp Viettel
0976 11 11 84  | 3,8tr 
Sim hợp Mạng Mộc

----o0o----
Sim Số Đẹp Vinaphone
01272.29.29.29 | 8,2 triệu
Sim taxi Hà Nội

---------------
Sim Thần Tài Vina
0918.575.879 | 2,5 triệu
Sim hợp Mệnh Thổ
Xem Phong Thủy: 10/10

---------------
Sim Thần Tài Vina
0915.575.879 | 2,5 triệu
Sim hợp Mệnh Kim

-------------------
Quý khách muốn Sở hữu
Sim Số Đẹp hợp Mệnh?
hãy Nhắn tin theo cú pháp
Họ tên, ngày, tháng năm sinh (DL), giới tính
Gửi tới: 0911.99.0000
----------
CÁC LOẠI SIM 10 SỐ ĐẸP
Sim Số Đẹp đuôi: 6688
Số Đẹp đuôi: 6868
Sim Số đuôi 1368
Số đẹp 6886
Sim đẹp đuôi 8668
Sim số đuôi 6668
Số Sim đuôi 8886
Sim số đẹp 8866
Sim Thần Tài 7979
Số Thần Tài 7799
THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

Tổng số sim: 133.653 sim

Đang online: 15 khách

Hôm nay :730 Lượt truy cập

Tổng truy cập:7,179,136


TRUNG TÂM SIM PHONG THỦY VIỆT NAM

Địa chỉ giao dịch
 1/20 Nguyễn Viết Xuân, Thanh Xuân, Hà Nội
 C5 Nguyễn Du, Phường 7, Quận Gò Vấp, Tp HCM
Email: simhoptuoi@gmail.com
Điện thoại liên hệ:
Tel: (04) 3999911 - (08) 6673.6666
Hà Nội 0979 883 888 - 01236.81.81.81
TP. HCM : 0911 99 0000 - 099 7727777 

Kiến thức Phong Thủy trên website chỉ mang tính chất tham khảo. Khi áp dụng cần tuyệt đối tuân thủ theo hướng dẫn của Chuyên gia.
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào do tự ý áp dụng theo các thông tin trên một cách bừa bãi.